Trong văn hóa phương Đông, thầy thuốc được tôn trọng ngang hàng thầy giáo và cha mẹ nên công chúng rất trọng thầy thuốc và trao cho thầy thuốc niềm tin và kỳ vọng rất lớn. Vậy bác sĩ phải làm sao đáp ứng lòng mong đợi đó?
Cố Giáo sư Ngô Gia Hy (người đã được Giải thưởng Khoa học Tôn Thất Tùng năm 2004) đã dành trọn đời mình nghiền ngẫm, trải nghiệm, giảng dạy y khoa. Những người quan tâm đến ông luôn nhớ mãi câu này:
“Bác sĩ giỏi mà không tốt thì nguy hiểm cho cộng đồng, bác sĩ tốt mà không giỏi thì càng nguy hiểm hơn nếu người đó tham gia khám và chữa bệnh”.
Bác sĩ tốt phải hội đủ hai điều: bác sĩ có ĐẠO ĐỨC và GIỎI.
Bác sĩ phải có đạo đức
Y Khoa là một khoa học nhân bản và là một nghệ thuật. Bác sĩ không những chú ý đến chuyên môn mà còn phải quan tâm đến tâm lý bệnh nhân và thẩm mỹ trong khi khám, chữa bệnh.
Bác sĩ phải có trái tim nhân hậu. Bác sĩ phải cảm thông, biết lắng nghe bệnh nhân, tìm cách điều trị cho bệnh nhân với tất cả khả năng của mình. Bệnh nhân không những đau ở thể xác mà tâm hồn họ cũng bị tổn thương. Bác sĩ không những phải chữa lành bệnh mà còn phải động viên, an ủi bệnh nhân, đem lại niềm tin cho họ. Bác sĩ đôi khi chữa lành bệnh nhưng luôn luôn phải nâng đỡ tinh thần người bệnh (Guérit parfois, soulage toujours - Nghĩa Vụ Luận Y Khoa).
Bác sĩ phải giỏi
Bác sĩ phải có kiến thức y học sâu rộng, kiến thức tổng quát tốt, phải liên tục học tập, có khả năng tổng hợp và tư duy logic. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đã viết: “Ngoài học tập về chuyên môn, bác sĩ còn phải đọc nhiều sách về Âm nhạc, Triết học, Khoa học… Sinh viên năm đầu ở Đại học Y khoa Harvard buộc phải đọc một số tiểu thuyết mang tính nhân bản cao của Joyce, Tolstoi, Camus, Kafka, Williams... qua thuyết trình, thảo luận, bên cạnh các môn cơ sở y học khác”.
Trong bài thi vào APM của trường ĐHYK Saigon (trước 75) có 40 câu hỏi về kiến thức tổng quát (chiếm 40/100 điểm), gồm các câu hỏi về văn học, âm nhạc, hội họa, đời sống, tình hình thế giới… không liên quan đến Y Học.
Để làm được một bác sĩ giỏi, bác sĩ phải biết cách khám bệnh và điều trị hiệu quả. Bác sĩ cần KHÁM BỆNH một cách cẩn trọng.
Tuy nhiên, việc chẩn đoán đúng bệnh là điều khó. Không có bác sĩ nào tự cho là mình chẩn đoán lúc nào cũng đúng. Trong những trường hợp khó khăn thì cần hội chẩn hoặc tham khảo ý kiến các bác sĩ khác. Ngoài ra, nếu chưa đủ điều kiện để chẩn đoán đúng thì ít ra cũng phải chẩn đoán được bệnh nhân bị bệnh thuộc nhóm bệnh nào, đặc điểm sinh lý bệnh của nó và tính chất cấp cứu của nó để đừng mắc sai lầm làm bệnh nặng thêm. Trong một số trường hợp, bác sĩ có quyền sử dụng phương pháp “Điều trị thử - Traitement d’épreuve”, nhưng phải ngắn hạn và phải theo dõi sát kết quả để điều chỉnh thích hợp.
Kết thúc, bác sĩ phải kê toa thuốc cho bệnh nhân. Để kê toa đúng, bác sĩ cần có kiến thức về Bệnh học, Sinh lý bệnh, Dược lý cùng với kiến thức tổng quát.
Khi kê toa, bác sĩ cần cân nhắc kê các loại thuốc cần thiết để chữa cho bệnh nhân. Không nên kê thuốc theo kiểu “bao vây”, “đụng đâu đánh đó” hay “theo đặt hàng của các hãng thuốc”. Bác sĩ chỉ kê toa theo sự cần thiết điều trị. Toa nên gồm ít thuốc nhất có thể, rẻ nhất có thể mà vẫn đảm bảo chữa khỏi bệnh cho bệnh nhân. Không nên kê toa theo kiểu “chữa triệu chứng”. Không được kê toa theo đề nghị của bất cứ ai hoặc thấy đồng nghiệp dùng thì dùng theo khi mình chưa biết rõ loại thuốc. Bác sĩ phải biết phối hợp các thuốc để đạt được kết quả điều trị tốt nhất. Những bệnh mãn tính cần điều trị lâu dài, bác sĩ phải nắm kỹ lý lịch bệnh của bệnh nhân, biết rõ diễn biến bệnh để điều chỉnh thuốc cho phù hợp và chia sẻ thông tin cho đồng nghiệp khi cần.
Toa thuốc phải theo đúng các quy định của Bộ Y tế: Đầu toa cần ghi rõ đơn vị, địa chỉ, số điện thoại để khi cần thân nhân bệnh nhân hoặc đồng nghiệp có thể liên hệ. Ghi rõ họ tên bệnh nhân, chẩn đoán bệnh, tên biệt dược, tên gốc, hàm lượng, liều lượng, thời điểm dùng thuốc, thời gian dùng thuốc, chế độ ăn uống… Dặn dò bệnh nhân kỹ lưỡng mọi việc. Những điều dặn dò phức tạp thì cần viết (in) ra để bệnh nhân có thể thực hiện đúng. Toa thuốc phải viết rõ ràng, dễ đọc để tránh nhầm lẫn thuốc. Bác sĩ phải ký tên, ghi rõ họ tên để xác định trách nhiệm của mình. Cuối cùng phải lưu toa thuốc lại để tiện việc theo dõi bệnh.
Tốt nhất là mỗi người, mỗi gia đình nên chọn cho mình một “bác sĩ gia đình”. Khi bị bệnh, người bệnh nên đến phòng khám gia đình hay gặp “bác sĩ gia đình” để được khám và điều trị bước đầu. Các phòng khám tuyến 2 nên làm công việc của một phòng khám gia đình đúng nghĩa.
Khi gặp tình huống khó khăn như phải quyết định chấp nhận phẫu thuật lớn hay một phương pháp điều trị đặc biệt, bệnh nhân cần tham khảo ý kiến một vài bác sĩ khác (second opinion). Đó có thể là bác sĩ gia đình hoặc một bác sĩ mà mình tin là tốt.
Khi đến khám bệnh, bệnh nhân cần giúp bác sĩ, cũng là giúp mình, bằng cách cung cấp cho bác sĩ các thông tin chính xác về bệnh tật của mình, trả lời đầy đủ, chính xác các câu hỏi của bác sĩ. Không nên cố “hướng” bác sĩ theo ý nghĩ, nghi ngờ của mình, dễ làm các bác sĩ thiếu kinh nghiệm bị chệch hướng, dẫn đến chẩn đoán sai. Người bệnh không nên yêu cầu bác sĩ cho làm xét nghiệm này, cận lâm sàng khác hay yêu cầu bác sĩ cho thuốc này hay thuốc kia, cũng không nên làm sẵn các xét nghiệm, cận lâm sàng trước rồi đưa đến yêu cầu bác sĩ cho toa. Việc khám bệnh, điều trị nên để bác sĩ quyết định.
Trong khi khám bệnh, người bệnh cần trao đổi thẳng thắn với bác sĩ những thắc mắc, hỏi bác sĩ những điều chưa rõ về bệnh của mình, có thể bàn bạc với bác sĩ để chọn cách điều trị phù hợp (VD: phẫu thuật hay điều trị bảo tồn). Cần trao đổi với bác sĩ mong muốn của mình, nhưng phải tôn trọng ý kiến của bác sĩ. Lắng nghe sự giải thích, các hướng dẫn của bác sĩ và thực hiện đúng. Sau khi đã thống nhất phương án điều trị, bệnh nhân cần tin tưởng vào bác sĩ, chấp hành đúng chỉ định điều trị. Trong quá trình điều trị, nếu có bất thường xảy ra, phải báo lại cho bác sĩ để điều chỉnh chỉ định điều trị, thay đổi thuốc... Không nên tự ý ngưng thuốc, thay đổi thuốc hoặc tự ý dùng thêm các thuốc khác (theo mách bảo của những người không chuyên môn).
Sự phối hợp tốt và tôn trọng lẫn nhau giữa bác sĩ và bệnh nhân sẽ có lợi cho cả đôi bên và làm cho việc điều trị bệnh dễ dàng hơn, kết quả hơn.
Bước vào thế kỷ XXI, Y Học có những tiến bộ vượt bậc:
Y học cá thể hóa (Personalized Medicine)
Có thể xếp lịch sử phát triển y học thế giới thành 4 giai đoạn:
Chúng ta đang ở vào thời kỳ Y Học Cá Thể Hóa (Personalized Medicine). Từ thập kỷ đầu của thế kỷ 21, những tiến bộ đáng kinh ngạc của ngành di truyền học hiện đại, đặc biệt là thành quả nghiên cứu tế bào gốc và bản đồ gene người đã giúp các nhà khoa học dự đoán được phản ứng của cơ thể nhờ phân tích bộ gene của chính người bệnh. Xu hướng “cá thể hóa” trong y học phương Tây đang được đánh thức để hình thành mô hình mới đầy hấp dẫn: Y Học Cá Thể Hóa hay Y học chính xác.
Y học chính xác hay y học cá thể hóa (PM) được hiểu một cách đơn giản là điều trị đúng bệnh với đúng thuốc, đúng liều, và vào đúng thời điểm. Nói rộng hơn, Y học cá thể hóa có thể được coi là công tác y tế chăm sóc phù hợp với các đặc điểm cá nhân, nhu cầu và sở thích của mỗi bệnh nhân trong tất cả các khâu bao gồm: phòng ngừa, chẩn đoán, điều trị và theo dõi.
Thực ra, ý tưởng này có nguồn gốc từ thời cổ đại: Hippocrates (cha đẻ của Tây Y – 446 TCN) đã từng kê đơn “người nào thuốc ấy”, không ai giống ai, dựa trên đặc thù bệnh mà mỗi người mắc phải. Ngày nay, y học hiện đại cũng đang sử dụng các nguyên tắc trên nhờ sự hỗ trợ mạnh mẽ từ thành tựu của công nghệ gene. Y học cá thể hóa là mô hình y tế đề xuất phương pháp chăm sóc sức khỏe tùy biến, với các quyết định (chẩn đoán, dự phòng, chăm sóc, điều trị) và các sản phẩm (thuốc, thực phẩm…) được thiết kế riêng cho từng bệnh nhân dựa trên các thông tin di truyền của chính họ và đặc thù căn bệnh. Bác sĩ kê toa thuốc cho từng bệnh nhân đối với mỗi bệnh vào các thời điểm khác nhau. Không có việc một toa thuốc chữa một bệnh nào đó phù hợp cho nhiều người!
Đối với bệnh ung thư, các bác sĩ có thể xác định đặc điểm hệ gene của tế bào ác tính, từ đó đưa ra liệu pháp điều trị riêng dựa trên các đột biến gene. Cách tiếp cận này hứa hẹn mang lại hiệu quả điều trị cao và hạn chế tối đa tác dụng phụ. Với bản đồ gene người có được, cùng với các kỹ thuật di truyền hiện đại có thể xác định được nguy cơ mắc bệnh ung thư ngay khi cơ thể đang khỏe mạnh.
Ở mỗi giai đoạn lịch sử, nền y học đều đóng góp công sức của mình cho nhân loại. Những thầy thuốc đều hướng đến việc tìm ra các phương cách tốt nhất để cứu chữa người bệnh. Trong mỗi giai đoạn, nhờ vào sự phát triển của thế giới về nhiều mặt mà phương pháp phát triển y học thay đổi để phù hợp với thực tế và yêu cầu chữa bệnh, bảo vệ sức khỏe con người. Trong những giai đoạn càng về sau, y học có cách nhìn, cách tiếp cận và chữa bệnh ngày một tiến bộ hơn.
Tuy nhiên, không phải khi một giai đoạn y học tiến bộ hơn ra đời thì giai đoạn trước sẽ chấm dứt mà vẫn song hành. Trong cùng thời điểm, y học thế giới luôn tồn tại các giai đoạn y học khác nhau.
Bác sĩ và AI (Trí tuệ nhân tạo)
AI là một mô phỏng trí thông minh của con người bằng máy tính. AI tra cứu và tổng hợp thông tin rất nhanh từ Big Data để đưa ra các câu trả lời. Nhưng vì là mô phỏng nên AI khó hoàn hảo.
Y khoa là một khoa học nhân bản và là một nghệ thuật. Các thuật toán AI không có cái tính nghệ thuật trong đó nên không thể nào thay thế một bác sĩ thực thụ. Đúng là robot (như robot nổi tiếng Da Vinci) đã được sử dụng trong phẫu thuật. Tuy nhiên, robot chỉ là một công cụ hỗ trợ bác sĩ chứ không thể nào thay thế cảm nhận và sự phán đoán của bác sĩ. Những khả năng này nằm ngoài khả năng của robot.
Hiện tại và trong tương lai gần AI chưa thể thay Bác sĩ. Nhiều bác sĩ xem mối tương tác, liên hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân là rất đặc biệt trong việc thu thập thông tin và đưa ra chẩn đoán. Vì vậy, họ không chấp nhận việc để AI đưa ra một chẩn đoán. Ngoài ra, bệnh nhân thường không trả lời đúng các câu hỏi về triệu chứng bệnh mà AI khó phát hiện ra. Thông tin đầu vào sai thì khó đưa ra chẩn đoán đúng.
Y đức và mối liên hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân cũng là một vấn đề cần lưu ý trong ứng dụng AI: Liệu bệnh nhân có sẵn sàng để robot làm phẫu thuật mà không có sự giám sát của bác sĩ? Hiện chưa thể có một câu trả lời thỏa đáng.
Tuy nhiên, trong tương lai AI sẽ trở thành một trợ lý quan trọng cho bác sĩ. Các mô hình AI có thể đưa ra những tiên lượng diễn biến của bệnh tật, thậm chí phát hiện và chẩn đoán bệnh tật. Vậy nhưng sau cùng thì người quyết định và ký tên vào hồ sơ bệnh lý vẫn là bác sĩ - người thực sự có thể cảm thụ được “tính nhân bản và tính nghệ thuật” của nghề y.
Tác giả: Bác sĩ Nguyễn Ngọc Hiền